Hướng Hóa: Những dấu ấn của nhiệm kỳ - Kỳ 1: Tập trung kinh tế, chú trọng phát triển nông nghiệp, lâm nghiệp và xây dựng nông thôn mới

Thứ sáu - 10/07/2020 15:46 207 0
Năm năm qua, nền kinh tế huyện tiếp tục phát triển, chuyển dịch đúng hướng, tổng giá trị sản xuất bình quân 12.690,7 tỷ đồng, tăng 134,6% so với nhiệm kỳ 2010 - 2015; thu nhập bình quân đầu người đạt 36,0 triệu đồng, tăng 15,4 triệu đồng so với năm 2015. Trong đó, đã tập trung phát triển nông - lâm nghiệp, thủy sản và xây dựng nông thôn mới.
Hướng Hóa: Những dấu ấn của nhiệm kỳ - Kỳ 1: Tập trung kinh tế, chú trọng phát triển nông nghiệp, lâm nghiệp và xây dựng nông thôn mới
     Ngành nông - lâm nghiệp, thuỷ sản phát triển ổn định, tổng giá trị sản xuất 1.269,07 tỷ đồng. Tái cơ cấu sản xuất nông nghiệp hợp lý; đẩy mạnh cơ giới hóa và ứng dụng các tiến bộ khoa học công nghệ, đặc biệt là công nghệ sinh học vào sản xuất như mô hình ứng dụng công nghệ tưới nhỏ giọt 12 ha chanh leo ở các xã Tân Hợp, Hướng Phùng, Tân Liên, 03 ha hồ tiêu ở Tân Liên; mô hình trồng 01 chuối nuôi cấy mô tại Tân Long; ứng dụng phân hữu cơ thân thiện với môi trường cho 09 ha cây cà phê ở Hướng Phùng, Hướng Tân; ứng dụng công nghệ sinh học chăn nuôi lợn tại xã Tân Lập, nuôi gia cầm ở xã Tân Hợp; mô hình sản xuất chuối sấy Chánh Nhung; các hộ sản xuất kinh doanh cà phê áp dụng máy móc kỹ thuật để tạo ra sản phẩm tinh (cà phê bột rang xay). Ổn định cơ cấu cây trồng, vật nuôi, có 04 sản phẩm OCOP đạt 03 sao cấp tỉnh ở thị trấn Khe Sanh và các xã Tân Liên, Tân Lập, Húc và Hướng Tân. Chuyển đổi 454 ha đất trồng sắn kém hiệu quả sang trồng cây phù hợp. Tập trung đẩy mạnh sản xuất, duy trì ổn định diện tích các loại cây trồng chủ lực, tổng diện tích gieo trồng bình quân 19.163,7 ha. Diện tích lúa nước bình quân năm 1.598,68 ha; sắn nguyên liệu đạt 4.756,06 ha. Tổng sản lượng lương thực bình quân 8.805,24 tấn/năm, đạt 61,52% nghị quyết; bình quân lương thực đầu người đạt 93,8 kg/người/năm. Hình thành một số vùng chuyên sản xuất rau đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm, phát triển diện tích trồng hoa, cây cảnh.
     Cây công nghiệp dài ngày phát triển ổn định, cà phê bình quân 5.073,04 ha, bình quân hàng năm tái canh 109,5 ha; sản lượng cà phê nhân bình quân 6.059,5 tấn; đã chú trọng về chất lượng và thị trường tiêu thụ, xây dựng thương hiệu cà phê Khe Sanh. Đầu tư khôi phục và phát triển cây hồ tiêu, diện tích bình quân 218,5 ha, sản lượng 137,6 tấn; Diện tích cây cao su đến nay đạt 1.089,7 ha. Mở rộng diện tích cây chuối tại các xã phía Nam và Tân Long, Tân Thành, thị trấn Lao Bảo; toàn huyện có 4.217,1 ha cây ăn quả. Chú trọng phát triển các loại cây ăn quả khác có tiềm năng phát triển và cho thu nhập cao như bơ, vải, thanh long...
     Phát triển chăn nuôi theo hướng công nghiệp và bán công nghiệp, mô hình trang trại, gia trại gắn với phát triển kinh tế vườn đồi; Toàn huyện có 18 mô hình chăn nuôi lợn; 02 mô hình chăn nuôi trâu, bò; 14 mô hình chăn nuôi gia cầm theo hình thức công nghiệp và bán công nghiệp đem lại hiệu quả kinh tế cao. Bình quân đàn gia súc, gia cầm phát triển ổn định, sản lượng thịt hơi xuất chuồng 4.056,1 tấn/năm. Hiện có 75,76 ha ao hồ nuôi trồng thuỷ sản, sản lượng cá bình quân 65 tấn/năm. Tăng cường quản lý, bảo vệ rừng; bình quân trồng mới 351,56 ha rừng tập trung và 18,88 vạn cây phân tán; tỷ lệ độ che phủ rừng 47%.
     Tập trung lãnh đạo, chỉ đạo triển khai thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới, đã phát huy được sức mạnh và sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị từ huyện đến cơ sở, cùng với sự đóng góp sức lực, vật chất của Nhân dân đã từng bước phần nâng cao chất lượng nông thôn mới; huy động 391,141 tỷ đồng để đầu tư xây dựng hạ tầng về giao thông, cơ sở vật chất văn hoá, thu nhập, tỷ lệ hộ nghèo, trường học theo tiêu chuẩn nông thôn mới. Đến nay, toàn huyện có 05 xã đạt 19 tiêu chí, 04 xã đạt từ 10 - 14 tiêu chí, 10 xã đạt từ 08 - 09 tiêu chí Nghị quyết Đại hội phấn đấu đến năm 2020 có 09/20 xã đạt 19 tiêu chí, 07/20 xã đạt từ 15 - 18 tiêu chí, 04/20 xã đạt từ 10 - 14 tiêu chí.
     Bước sang nhiệm kỳ mới, huyện Hướng Hóa xác định các chỉ tiêu kinh tế chủ yếu, trong đó đẩy mạnh phát triển nông nghiệp, lâm nghiệp và xây dựng nông thôn mới. Tổng giá trị sản xuất của nền kinh tế đến năm 2025 đạt 23.855,7 tỷ đồng, bình quân giai đoạn 2021 - 2025 tăng 62,28%. Trong đó, ngành nông - lâm nghiệp đạt 2.065,74 tỷ đồng, chiếm 8,66%; ngành công nghiệp - xây dựng đạt 10.235,29 tỷ đồng, chiếm 42,90%; ngành dịch vụ đạt 11.554,71 tỷ đồng, chiếm 48,44%. Đến năm 2030, tổng giá trị sản xuất đạt trên 29.390 tỷ đồng. Thu nhập bình quân đầu người đến năm 2025 đạt 50,78 triệu đồng và đến năm 2030 đạt trên 76,5 triệu đồng. Tổng vốn đầu tư xây dựng toàn xã hội bình quân hàng năm đạt 4.054,99 tỷ đồng, tăng 8% năm. Tốc độ tăng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn bình quân hàng năm giai đoạn 2021 - 2025 đạt 14% - 16%. Đến năm 2025 có thêm 03 - 05 xã đạt chuẩn nông thôn mới, các xã còn lại đạt từ 15 - 18 tiêu chí; phấn đấu 05 - 08 xã đạt nông thôn mới nâng cao; 02 - 03 xã đạt nông thôn mới kiểu mẫu. Có 09 - 12/36 thôn đạt nông thôn mới kiểu mẫu; có 65/94 thôn, bản đạt chuẩn nông thôn mới, trong đó có 22/37 thôn thuộc các xã đặc biệt khó khăn theo Quyết định 1385/QĐ-TTg.
     Lĩnh vực Nông nghiệp công nghệ cao, nông nghiệp hữu cơ, liên kết theo chuỗi giá trị được xác định là ngành và lĩnh vực đột phá; Duy trì 04 sản phẩm nông nghiệp chủ lực: chuối, sắn, cà phê, hồ tiêu; phát triển một số mặt hàng nông sản như: bơ, mắc ca, chanh leo; chú trọng phát triển sản phẩm OCOP, đến năm 2025 có từ 15-20 sản phẩm đạt 3 sao, 4-5 sản phẩm đạt 4 sao.
     Tập trung tái cơ cấu ngành nông nghiệp gắn với xây dựng nông thôn mới. Đẩy mạnh phát triển nông - lâm nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa; chú trọng ứng dụng khoa học công nghệ để nâng cao chất lượng, giá trị và khả năng cạnh tranh của các sản phẩm nông nghiệp có lợi thế như cà phê, cao su, chuối, tinh bột sắn, chanh leo, hạt tiêu, ngô… Quan tâm xây dựng chuỗi liên kết trong sản xuất với các doanh nghiệp, ký kết bao tiêu sản phẩm cho người nông dân. Tiếp tục ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất; chú trọng đầu tư thâm canh tăng năng suất, chất lượng sản phẩm; gắn sản xuất với khai thác, bảo vệ tài nguyên, môi trường sinh thái. Phấn đấu đến năm 2025 tổng diện tích gieo trồng là 9.532,15 ha với một số cây trồng chủ yếu: Lúa nước cả năm 2.000 ha, sản lượng 8.500 tấn; lúa rẫy 760 ha, sản lượng 1.050 tấn; ngô 1.200 ha, sản lượng 1.440 tấn hạt khô. Sản lượng lương thực bình quân người 104 kg/người/năm. Tổng sản lượng lương thực cây có hạt đạt 10.000 tấn. Cây sắn 4.400 ha, sản lượng 65.000 tấn. Tiếp tục liên kết với các doanh nghiệp để đầu tư, mở rộng diện tích cây chanh leo trên địa bàn, đến năm 2025 đạt 200 ha, sản lượng 2.250 tấn. Duy trì ổn định các loại cây trồng chủ lực đến cuối nhiệm kỳ: Cà phê 5.000 ha, sản lượng đạt 5.800 tấn hạt nhân, hàng năm tái canh 120 - 150 ha; cây hồ tiêu 268 ha, sản lượng đạt 242,44 tấn, trồng mới 30 ha; cây cao su 1.300 ha, sản lượng đạt 999,14 tấn mủ đông, trồng mới 250 ha; chuối 3.500 ha, sản lượng đạt 112,0 ngàn tấn; cây mắc ca 525 ha. Tiếp tục xây dựng, quảng bá thương hiệu, chỉ dẫn địa lý đối với các sản phẩm nông nghiệp, đặt biệt là sản phẩm OCOP. Tiếp tục đầu tư xây dựng mới, nâng cấp hệ thống cơ sở hạ tầng trong nông nghiệp gắn với thực hiện dồn điền, đổi thửa, tạo thuận lợi trong canh tác, gieo trồng tập trung; nâng cao năng lực dự báo, phòng chống thiên tai. Từng bước đổi mới, phát triển các mô hình hợp tác xã, liên kết sản xuất góp phần vào việc cung ứng vật tư, tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp, thúc đẩy hàng hóa phát triển. Phát triển chăn nuôi theo hướng hợp tác xã, trang trại, gia trại, an toàn sinh học, phù hợp lợi thế của từng vùng. Đến năm 2025 đàn trâu 3.700 con, đàn bò 14.000 con, đàn lợn 35.000 con, đàn dê 18.000 con, tổng đàn gia cầm 300.000 con, diện tích nuôi trồng thủy sản 75 ha. Sản lượng thịt hơi xuất chuồng đạt 5.500 tấn. Thực hiện tốt công tác phòng, chống dịch bệnh, đảm bảo vệ sinh môi trường. Phát triển lâm nghiệp toàn diện theo hướng xã hội hóa nghề rừng; tổ chức tốt việc giao rừng tự nhiên ổn định lâu dài, khuyến khích và hỗ trợ phát triển nhanh rừng sản xuất. Chú trọng bảo vệ rừng, phấn đấu hàng năm trồng mới từ 150 - 200 ha rừng tập trung và 10 vạn cây phân tán, duy trì tỷ lệ độ che phủ rừng 47%. Dành nguồn lực phù hợp để đầu tư cơ sở hạ tầng khu vực nông thôn, ưu tiên về phân bổ nguồn vốn đối với các xã đặc biệt khó khăn, biên giới, xã đăng ký đạt chuẩn nông thôn mới, xã có tiêu chí đạt thấp...; có các chương trình chính sách phát triển về y tế, giáo dục, phát triển sản xuất, nâng cao thu nhập cho người dân, từng bước cải thiện môi trường nông thôn, xây dựng cảnh quan xanh sạch đẹp, tiếp tục củng cố và nâng cao chất lượng hệ thống chính trị cơ sở, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội nông thôn. Đến cuối nhiệm kỳ, đạt 100% mục tiêu theo Kết luận số 11-KL/HU, ngày 19/12/2019 của Huyện ủy (khóa XVI) về thực hiện nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới năm 2020 và giai đoạn 2021 - 2025.
(Mời quý vị tiếp tục theo dõi bài viết của các Kỳ tiếp theo)

Tác giả bài viết: Nguyễn Ngọc Tri

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây